SharePoint
portal

Skip Navigation LinksBáo-cáo-tình-hình-kinh-tế---xã-hội-tháng-4-năm-2019

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019
  Cập nhật: 29/07/2019 8:13 SA
Dịch tả lợn châu phi (DTLCP) xuất hiện ở tất cả các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh và đang diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến kinh tế và dời sống nhân dân trong tỉnh. Hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá, nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Vụ chiêm xuân năm 2019, toàn tỉnh gieo trồng sơ bộ đạt 67.368 ha, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, diện tích lúa chiêm xuân sơ bộ đạt 57.722 ha; rau, màu vụ xuân ước đạt 9.646 ha. Tổng diện tích gieo trồng giảm, trong đó cây lúa giảm nhiều nhất.  Nguyên nhân chính làm giảm diện tích gieo trồng lúa vụ chiêm xuân 2019 là do: (1) chuyển dịch cơ cấu cây trồng, sang trồng cây hàng năm khác, cây lâu năm (ăn quả) có hiệu quả kinh tế cao hơn; (2) một số diện tích đất chuyển sang nuôi trồng thủy sản; (3) chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng khu công nghiệp, đường giao thông, mở rộng khu dân cư, mở rộng đường nội đồng, kênh dẫn nước và một số công trình công ích khác.

Về cây ăn quả, đặc biệt là cây vải thiều, thời tiết năm nay không thuận lợi đối với việc sinh trưởng, phát triển của cây vải, nhất là trà vải muộn, ở thời kỳ phân hóa mầm hoa thời tiết nắng nóng, các đợt rét đậm rất ít và không kéo dài làm cây phân hóa mầm hoa kém, tỷ lệ ra hoa đậu quả thấp; sản lượng vải năm nay giảm mạnh so với năm 2018. Riêng tại huyện Thanh Hà, tỷ lệ đậu quả ở vải sớm ước đạt trên 80%, giảm 15% so với năm 2018, trà vải muộn tỷ lệ ra hoa ước đạt trên 40%, giảm 40% so với năm 2018. Dự kiến sản lượng vải thiều chỉ đạt hơn 50% so với năm trước.

1.2. Chăn nuôi

Chăn nuôi gia cầm trong tỉnh ổn định, không xẩy ra dịch bệnh nên đàn gia cầm phát triển tốt. Riêng chăn nuôi lợn gặp khó khăn do dịch tả lợn châu phi (DTLCP) xuất hiện ở tất cả các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh và đang diễn biến phức tạp.

Tổng đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 405.000 con, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, đàn lợn có xu hướng giảm, do ảnh hưởng của dịch bệnh; tình hình tiêu thụ lợn hơi cũng gặp khó khăn, người chăn nuôi sản xuất cầm chừng, không mạnh dạn tái đàn nên đàn lợn thịt có xu hướng giảm.

Đàn trâu, bò trên địa bàn tỉnh tiếp tục có xu hướng giảm, do hiệu quả chăn nuôi thấp, nhu cầu dùng sức kéo trong sản xuất nông nghiệp không còn. Tổng đàn trâu ước đạt 4.130 con, giảm 1%; đàn bò ước đạt 20.150 con, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 12.350 nghìn con, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước.  

Về diễn biến dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh, ​Đến 17h ngày 21/4, bệnh DTLCP đã xảy ra ở tất cả các huyện, thành phố; tại 210 xã, phường, thị trấn; ở 689 thôn và 6,364 hộ chăn nuôi; buộc phải tiêu hủy 76.985 con với tổng trọng lượng là 4.810 tấn. Chi cục Thú y tỉnh nhận định, dịch tả lợn châu Phi tiếp tục lan rộng; vì vậy, người dân cần tuân thủ nghiêm các biện pháp tiêu độc, khử trùng chuồng trại, khu chăn nuôi, phối hợp với chính quyền địa phương và lực lượng chức năng tổ chức bao vây, khống chế dịch trong phạm vi hẹp, kiểm soát việc vận chuyển, tiêu thụ lợn ra ngoài vùng dịch.

1.3. Lâm nghiệp

Trong tháng, toàn tỉnh đã trồng được trên 30.000 cây, những huyện có số lượng cây trồng nhiều như Chí Linh, Thanh Hà, Kinh Môn. Cây phân tán chủ yếu được trồng trong dịp đầu xuân, trồng tập trung ở các khu đô thị mới, công viên, công sở, trường học, các khu di tích, danh lam thắng cảnh, quanh bãi rác, đường làng, đường trục ngoài cánh đồng, các trang trại; các giống cây được trồng chủ yếu: sấu, bạch đàn, keo, long lão... Sản lượng khai thác gỗ ước đạt 206 m3, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước.

1.4. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định, công tác vệ sinh ao nuôi và phòng trừ dịch bệnh được duy trì thường xuyên nên cơ bản dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ, rải rác. Diện tích nuôi trồng thủy sản được duy trì ổn định ước đạt trên 11.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác trong tháng ước đạt 6.500 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ 2018.

Phương thức nuôi lồng bè tiếp tục được mở rộng, toàn tỉnh ước đạt trên 4.000 lồng nuôi cá; tổng thể tích nuôi ước đạt 466.000 m­3. Nuôi lồng bè đem lại hiệu quả kinh tế khá, tuy nhiên người nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thấp, trong khi nguồn cung lại dồi dào do hầu hết các ao nuôi đang trong thời kỳ cho thu hoạch.

2. Sản xuất công nghiệp

Cùng với cả nước, UBND tỉnh đang tích cực chỉ đạo các sở, ngành tăng cường cải cách thủ tục hành chính,xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp; thời gian qua môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh tiếp tục có nhiều chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng nhẹ 0,2% so với tháng trước. Cụ thể mức tăng của các ngành như sau: ngành khai khoáng tăng 7,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 6,9%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,0%.

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 4 của tỉnh tăng 10,3%; trong đó, ngành khai khoáng tăng 1,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 17,5%sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 3,1%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng 9,5% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,0%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 23,6%; riêng 2 ngành khai khoáng và ngànhsản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm lần lượt 13,8% và 5,2%.

Đối với ngành khai khoáng, sản lượng đá khai thác giảm do nhiều vùng nguyên liệu hết hạn, giá bán thấp, chi phí sản xuất tăng trong khi đó nhu cầu thị trường trầm thấp hơn những năm trước do hiện nay trên địa bàn tỉnh ít công trình xây dựng lớn.

Tương tự, ngành sản xuất, phân phối điện do áp lực cạnh tranh về giá bán đến từ các đơn vị sản xuất điện khác(chủ yếu là thuỷ điện) đã làm giảm sản lượng nhiệt điện.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng điển hình như: Bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket,… cho người lớn +13,8%; Áo phông (T-shirt), may ô người lớn +16,0%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài +26,9%; bao bì và túi bằng giấy +80,0%; sản phẩm bằng plactic +44,0%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép +73,2%; Đinh, đinh mũ, ghim, vít, then, đai ốc +43,7%; micro và các linh kiện của chúng +22,5%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác +13,2%; bơm nước một tầng, một cửa hút, trục ngang +13,3%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu +14,6%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ +39,0%.

2.2. Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục có chuyển biến theo hướng tích cực; tại thời điểm 01/4/2019 chỉ số sử dụng lao động tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 2,6% so với cùng kỳ, tính chung 3 tháng đầu năm tăng 2,3%. Các ngành có lượng lao động tăng là: dệt +13,1%; sản xuất trang phục +2,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan +7,8%; in, sao chép bản ghi các loại +9,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic +1,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) +1,6%; sản xuất thiết bị điện +35,6%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu +3,1%; sản xuất xe có động cơ +12,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác +4,2%; khai thác, xử lý và cung cấp nước +0,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu +10,9%...

Các ngành có chỉ số lao động giảm là: sản xuất, chế biến thực phẩm -4,4%; sản xuất đồ uống -6,9%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất -14,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác -7,2%; sản xuất kim loại -2,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học -3,0%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí -4,3%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 3 đạt 135 tỷ đồng, tăng 91,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 68 tỷ đồng, tăng 41,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 57 tỷ đồng; vốn ngân sách cấp xã đạt 10 tỷ đồng.

Ước tháng 4, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 147 tỷ đồng, tăng  50,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 78 tỷ đồng , tăng 39,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 59 tỷ đồng, tăng 68,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách cấp xã đạt 10 tỷ đồng, tăng 55,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 444 tỷ đồng, đạt 20,3% kế hoạch năm, tăng 86,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 213 tỷ đồng, đạt 17,8% kế hoạch năm, tăng 51,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 196 tỷ đồng, đạt 23,2% kế hoạch năm, tăng 171,5%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 15 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch năm, tăng 35,5%.

Đầu tư từ ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư. Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Tuy nhiên nguồn vốn đầu tư của Nhà nước hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, để thúc đẩy nhanh nguồn vốn đầu tư phát triển, trong năm 2019 cần tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà nước, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ và tình trạng đầu tư cả những dự án không cần thiết, kém hiệu quả, những dự án chưa hoàn thành thủ tục đầu tư đã tồn tại từ nhiều năm.

4. Thương mại, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 4 ước đạt 3.846 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,2%; tăng 10,1% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 2.409 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.365 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 11,0% so với cùng kỳ; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 73 tỷ đồng, tăng 9,0% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.312 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 562 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 525 tỷ, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá 4 tháng đầu năm ước đạt 15.280 tỷ đồng, tăng 10,0% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 9.611 tỷ đồng, chiếm 62,9% và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 5.381 tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 9,0%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và vốn đầu tư nước ngoài) đạt 288 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 6,7% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,0% trong tổng số và đạt 5.194 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 2.243 tỷ đồng, tăng 13,3% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.101 tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm trước.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 4 ước đạt 832 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước; tăng 6,5% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 524 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước, tăng 6,6% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân đạt 252 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 5,9% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 5,3% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 5,4%; dịch vụ ăn uống đạt 325 tỷ đồng, tăng 0,6%; dịch vụ khác đạt 481 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 5,6% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng đầu năm ước đạt 3.331 tỷ đồng; tăng 7,1% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 2.063 tỷ đồng, chiếm 61,9% và tăng 8,1% so với năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.049 tỷ đồng, chiếm 31,5% và tăng 5,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 154 tỷ đồng, chiếm 4,6% và tăng 4,1% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 96 tỷ đồng, chiếm 2,9% trong tổng số và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 1.285 tỷ đồng, chiếm 38,6% tổng số và tăng 9,5%; dịch vụ khác đạt 1.946 tỷ đồng, chiếm 58,4% tổng số, tăng 6,8% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 4 ước đạt 859 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 2,0%, tăng 11,7% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 114 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 2,3%, so với cùng kỳ tăng 15,7%; vận tải hàng hoá đạt 662 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước, tăng 11,9% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là các hoạt động kinh doanh doanh vận tải, dịch vụ kho bãi trở lại hoạt động bình thường sau thời gian nghỉ Tết và lễ hội đầu năm.

 Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải 4 tháng đầu năm đạt 3.268 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 443 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 10,6%; vận tải hàng hoá đạt 2.503 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 322 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 4 ước đạt 3,0 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 1,5% và tăng 16,0% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 115,3 triệu hành khách.km, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11,7 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 11,0%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 455,5 triệu hành khách.km tăng 10,7% so với cùng kỳnăm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4 ước đạt 11,4 triệu tấn, so với tháng trước tăng 2,2% và tăng 9,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 787 triệu tấn.km, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 43,5 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 7,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3.032,9 triệu tấn.km, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 4 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định.

5. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 0,91% so với tháng 12 năm trước. Nhóm hàng thực phẩm giảm 1,34% so với tháng trước do các loại thịt (chủ yếu thịt lợn) đều giảm giá; đây là các mặt hàng thực phẩm thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu dùng nên tiếp tục tác động mạnh tới chỉ số giá tiêu dùng.

Bình quân 4 tháng đầu năm CPI tăng 2,99% so với bình quân cùng kỳ năm trước; trong đó, các nhóm mặt hàng: thực phẩm (+6,67%); ăn uống ngoài gia đình (+9,88%); dịch vụ giáo dục (+11,63%); đồ uống, thuốc lá (+2,21%) tăng giá lớn nhất góp phần đẩy CPI lên khá cao.

II. Một số vấn đề xã hội

Thực hiện nhiệm vụ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, theo Quyết định 722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 chính thức bắt đầu từ 0 giờ ngày 1/4/2019 trên phạm vi cả nước; tỉnh Hải Dương huy động hơn 2.000 điều tra viên tham gia thu thập thông tin tại tất cả các thôn, khu dân cư trong tỉnh.

Đến 12h ngày 23/4, toàn tỉnh đã hoàn thành khâu thu thập thông tin tại địa bàn điều tra; huyện Nam Sách hoàn thành sớm nhất (ngày 17/4), tiếp theo là các huyện Thanh Hà, Kim Thành.

1.Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Tối 17/4, tại xã Bắc An, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND thành phố Chí Linh tổ chức Ngày hội văn hoá, thể thao các dân tộc thiểu số năm 2019. Ngày hội là hoạt động chào mừng kỷ niệm 44 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 65 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chào mừng sự kiện Chí Linh lên thành phố.

Tối ngày 20/4, tại Quảng trường Sao Đỏ, Thành ủy - HĐND - UBND - Uỷ ban MTTQ thành phố Chí Linh đã long trọng tổ chức Lễ công bố Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập thành phố Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương.

Nghị quyết số 623/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc nhập 02 đơn vị hành chính cấp xã, thành lập 06 phường thuộc thị xã Chí Linh và thành lập thành phố Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2019.

Thể thao; Tối 12/4, Giải bóng bàn quốc tế cúp Hoàng Thạch lần thứ VIII năm 2019 đã khai mạc tại Nhà thi đấu thể dục thể thao Hải Dương. Giải do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với Công ty TNHH một thành viên xi măng Vicem Hoàng Thạch tổ chức. Giải năm nay thu hút 81 tay vợt (46 nam và 35 nữ) đến từ 3 đoàn quốc tế là đội trẻ Malaysia, Suwon (Hàn Quốc), Quảng Tây (Trung Quốc) và 6 đoàn trong nước gồm: TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quân đội, Vicem Hoàng Thạch Hải Dương 1 và Vicem Hoàng Thạch Hải Dương 2. 

Sáng 13/4, tại Nhà thi đấu thể thao UBND TP Chí Linh, Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao TP Chí Linh khai mạc Giải bóng bàn chào mừng sự kiện Chí Linh lên thành phố. Tham dự giải có gần 70 tay vợt nam, nữ của 11 câu lạc bộ (CLB) đến từ các xã, phường trên địa bàn TP Chí Linh. Các tay vợt tranh tài ở 5 nội dung gồm: đồng đội nam, đơn nam, đôi nam, đôi nam nữ và đơn nữ..

2. Y tế

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, hiện nay một số bệnh truyền nhiễm vẫn diễn biến phức tạp. Ngày 16/4, tại ổ dịch thủy đậu ở Chí Linh đã có thêm 36 trẻ mắc, nâng tổng số lên 66 người mắc tại ổ dịch này. Ổ dịch ở TP Hải Dương được phát hiện vào ngày 29/3 vẫn đang tiếp tục lưu hành với tổng số 7 ca mắc.

Ngày 27/3, trong tỉnh đã xuất hiện thêm một ổ dịch tại thị trấn Ninh Giang và đến ngày 11/4 có thêm bệnh nhân, nâng tổng số lên 17 người mắc. Tại ổ dịch này đã có một phụ nữ bị sảy thai do mắc sởi. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có 257 người mắc thủy đậu (tăng 150 người  so với năm 2018), 82 người mắc sởi trong khi cùng kỳ năm ngoái không có trường hợp nào.

 3. Giáo dục

Từ ngày 01/4 đến hết ngày 20/4 các thí sinh cần hoàn thành hồ sơ đăng ký dự thi THPT quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng năm 2019. Trên địa bàn tỉnh có 67 điểm là các trường THPT và trung tâm GDTX ở các huyện, thị trong tỉnh; các điểm tiếp nhận hồ sơ đều được bố trí cán bộ, giáo viên nhận, kiểm tra hồ sơ của từng thí sinh; sau khi hoàn thiện thông tin của thí sinh, cán bộ tiếp nhận hồ sơ mới cập nhật vào cổng thông tin tuyển sinh quốc gia. Sau ngày 20/4, thí sinh không được thay đổi các thông tin về bài thi, môn thi đã đăng ký.

4. Bảo vệ môi trường

 Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh phát sinh 27 vụ vi phạm đê điều, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước. Các vi phạm chủ yếu là xây dựng công trình ngoài bãi sông, kinh doanh bến bãi trái phép, chất tải vật tư xây dựng, đổ rác thải trên đê.

Chi cục Quản lý đê điều và phòng chống lụt bão đã lập biên bản, kiến nghị UBND các huyện, thành phố xử lý. Có 12 vi phạm đã được xử lý dứt điểm. Hạt Quản lý đê các huyện, thành phố đã phát hiện và thông báo cho chính quyền địa phương 85 lượt thông tin về tàu khai thác cát trái phép. Từ nguồn tin này, cơ quan chuyên môn đã bắt giữ 16 tàu khai thác cát trái phép, xử phạt hành chính 362 triệu đồng.

Trong tháng 4, cơ quan chức năng đã phát hiện 7 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 6 vụ với tổng số tiền phạt 104 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện 34 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 28 vụ với tổng số tiền phạt 553,5 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 4/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 114 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm xảy ra 05 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 2.399 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Quý I năm 2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 56 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 59 người, làm bị thương 27 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông giảm 12 vụ (-17,6%), giảm 04 người chết (-6,3%) và giảm 10 người bị thương (-27,0%). Trong đó, chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ, xảy ra 53 vụ làm chết 57 người, làm bị thương 24 người và đường sắt xảy ra 01 vụ, làm chết 02 người, bị thương 03 người./.

Theo Cục Thống kê tỉnh
Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương
Thông tin chỉ đạo điều hành
Thông tin tra cứu
Danh bạ Sở Ban Ngành
Danh bạ UBND các Huyện TP-TX
Số điện thoại cần biết
Các tuyến xe buýt
Các hãng taxi
Các Văn phòng Công chứng
Bảng khung giá đất
Lịch phát sóng đài truyền hình
Lịch cắt điện
Kết quả XSKT
na
na
na
na
na
na
na
qc
na
qc
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 18880200

Cơ quan chủ quản:Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương
Trưởng Ban Biên tập: Ông Lương Văn Cầu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương
Cơ quan thường trực: Văn phòng UBND tỉnh Hải Dương
Đơn vị thực hiện: Trung Tâm Công nghệ thông tin - Văn phòng UBND tỉnh Hải Dương
Địa chỉ: Số 45 Quang Trung - TP Hải Dương
Điện thoại: 0220.3837 444 - Fax: 0220.3853 601 - Email: haiduong@chinhphu.vn, ubndthd@gmail.com