SharePoint
portal

Skip Navigation LinksBáo-cáo-tình-hình-kinh-tế---xã-hội-tháng-6-và-6-tháng-năm-2019

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019
  Cập nhật: 29/07/2019 8:16 SA
Vì vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng có một số điểm sáng như sau: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá 2010) tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; thu ngân sách đạt khá, thu nội địa ước đạt 62,4% dự toán năm, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xuất khẩu tăng 17,4%; lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, chính trị xã hội ổn định, công tác quốc phòng an ninh được củng cố vững chắc.
 

I. Kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm ước đạt 7,2%; thấp hơn mức tăng trưởng của quý I năm nay và cùng kỳ năm trước; các ngành đóng góp vào mức tăng chung cụ thể như sau:

- Ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm 4,9%, làm giảm 0,6 điểm% vào tăng trưởng GRDP; trong đó, ngành trồng trọt ước giảm 4,3% tương đương giảm 300 tỷ đồng (riêng cây vải giảm 298 tỷ đồng); chăn nuôi giảm 11,0% (tương đương -284 tỷ đồng); nuôi trồng thủy sản tăng 3,3% tương đương 32 tỷ đồng; riêng hoạt động dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nên ít tác động đến tăng trưởng của ngành.

- Ngành công nghiệp, xây dựng tăng 10,1%, đóng góp 5,8 điểm% vào tăng trưởng GRDP. Tình hình sản xuất kinh doanh nhìn chung vẫn tăng trưởng ổn định, tuy nhiên mức tăng có xu hướng chậm lại so với những tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 9,3% so với cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng trưởng khá các nhà đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu đô thị, khu dân cư theo đúng hồ sơ thiết kế được duyệt để đảm bảo mục tiêu đầu tư, tiến độ hoàn thành của dự án đã được phê duyệt làm cơ sở đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất của ngành.

- Ngành dịch vụ tăng 6,5% đóng góp 2,0 điểm% vào tăng trưởng GRDP. Doanh thu các ngành dịch vụ như vận tải, kho bãi (+7,1%), thương mại bán lẻ (+6,6%), dịch vụ tiêu dùng (+7,8%) vẫn tăng ổn định nhưng thấp hơn so với tăng trưởng năm trước.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2.1. Sản xuất nông nghiệp

* Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân đạt 88.854 ha, giảm 0,8%(-728 ha) so với cùng kỳ năm trước (vụ đông tăng 214 ha, vụ chiêm xuân giảm 942 ha). Trong đó, diện tích vụ đông 21.384 ha, chiếm 24,1%; vụ chiêm xuân 67.470 ha, chiếm 75,9% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân.

Trong cơ cấu diện tích gieo trồng vụ đông xuân, cây lúa chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 65,1% (năm 2018 là 65,0%; năm 2017 là 65,4%; năm 2016 là 66,4%), tiếp đó là nhóm cây rau, đậu, hoa (27,0%), các nhóm cây còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể. 

ổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm xuân đạt 67.470 ha, giảm 1,4% (-942 ha) so với vụ Chiêm xuân năm 2018; trong đó, cây lương thực có hạt đạt 58.985 ha, chiếm 87,4%, giảm 1,3% (- 768 ha); cây có củ chất bột đạt 304 ha, chiếm 0,4%, giảm 2,9% (-9 ha);  cây có hạt chứa dầu đạt 909 ha, chiếm 1,4 %, giảm 4,9% (-47 ha); rau, đậu, hoa các loại đạt 6.482 ha, chiếm 9,6%, giảm 4,4% (-297 ha); các cây còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể.

 Năng suất lúa vụ chiêm xuân sơ bộ đạt 64,25 tạ/ha, giảm 4,1%              (-2,73 tạ/ha) so với vụ chiêm xuân trước; sản lượng đạt 371.384 tấn, giảm 5,2% (-20.213 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất giảm so với cùng kỳ năm trước là do diễn biến thời tiết không thuận cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa ở một số giai đoạn: trong thời kỳ lúa đẻ nhánh ít mưa, nhất là mưa rào nên lúa đẻ nhánh kém, bình quân số nhánh trong các khóm ít hơn cùng kỳ; thời tiết ấm nóng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa nên chiều cao cây, chiều dài bông không đạt tiềm năng như các năm trước; giai đoạn lúa trổ bông, vào chắc, trời mưa, âm u ít nắng, ảnh hưởng xấu đến quá trình thụ phấn vào chắc, tỷ lệ hạt lép cao. Bệnh bạc lá phát sinh gây hại ở mức độ cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Về cây lâu năm, Tổng diện tích toàn tỉnh ước đạt 21.809 ha, tăng 0,4%   (-77 ha) so với cùng kỳ năm 2018. Trong tổng diện tích trồng cây lâu năm, diện tích trồng cây ăn quả ước đạt 21.147 ha, chiếm 97,0% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, diện tích cây gia vị, dược liệu ước đạt 83 ha, chiếm 0,4%; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 409 ha, chiếm 1,9%, các cây lâu năm còn lại là cây lấy dầu và cây chè búp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Cây ăn quả là cây trồng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh (chiếm 97,0%), tăng 0,8% (+157ha) so với cùng kỳ năm 2018. Một số diện tích cây lâu năm già cỗi không cho hiệu quả kinh tế như: nhãn, vải đã bị phá bỏ, một phần diện tích đã được trồng thay thế bằng những cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: ổi, na, xoài, đu đủ, hồng…

Cây vải là cây lâu năm trọng điểm của tỉnh, diện tích ước đạt 10.014 ha, giảm 1,6% (-158 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm là do một số diện tích vải thiều kém hiệu quả đã được người dân chuyển sang trồng cây trồng khác có giá trị hơn như: cam đường canh, na, ổi, mít,... Bên cạnh đó, do hiệu quả kinh tế cây vải mang lại không cao; sản phẩm thu hoạch thường tập trung trong thời gian ngắn; mặt khác sản phẩm khó bảo quản, giá bán bấp bênh không ổn định cũng làm cho diện tích trồng vải giảm.

Ước tính sản lượng một số cây ăn quả chính của tỉnh đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như: xoài sản lượng ước đạt 1.340 tấn, tương đương với cùng kỳ năm trước; chuối ước đạt 27.685 tấn, (+0,1%); ổi ước đạt 20.588 tấn (+2,4%); các cây ăn quả khác nhìn chung đều cho sản lượng cao hơn so với cùng kỳ.

Sản lượng vải ước đạt 25 - 27 nghìn tấn, so với năm trước giảm khoảng 60% (-40 nghìn tấn). Nguyên nhân sản lượng vải giảm do:

 Một là, do điều kiện thời tiết năm nay mùa đông ấm, nhiệt độ mùa đông liên tục ở vảo khoảng 19 -240C cây vải khó phân hóa mầm hoa và ra hoa. Đặc biệt là cây vải thiều đòi hỏi nhiệt độ mùa đông trong tháng 11, tháng 12 phải có 20 giờ liên tục ở nhiệt độ dưới 160C mới thuận lợi cho phân hóa mầm hoa;

Hai là, do năm 2018 cây vải được mùa nhất từ trước đến nay dẫn đến nhiều diện tích phải thu hoạch khi vải quá chín làm cho cây cạn kiệt chất dinh dưỡng, nên không thể ra lộc kịp mùa vụ dẫn đến không thể ra hoa cho vụ sau.

* Chăn nuôi

Trong 6 tháng đầu năm, chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, hiệu quả kinh tế đạt khá, các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi cách chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn vật nuôi; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin nên không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia cầm.

Đàn trâu, bò có xu hướng tăng, tại thời điểm 01/7, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.140 con, giảm 0,3%; đàn bò ước đạt 19.600 con, tăng 1,3%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt tại thời điểm 01/7 ước đạt 260.000 con, giảm 40,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 36.153 tấn, giảm 20,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 11.504 nghìn con, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gia cầm ước đạt 20.434 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Lâm nghiệp

Ước 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước đạt 60 ha diện tích rừng trồng mới, tăng 12 ha so với năm 2018, trong đó diện tích rừng phòng hộ trồng mới là 11 ha, còn lại là diện tích rừng trồng cây keo thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể; diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 328 ha, tăng 60 ha so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, rừng trồng được chăm sóc khu vực nhà nước là 95 ha, còn lại là diện tích rừng trồng cây keo thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể. Do nhà nước đang thẩm định cho hoạt động khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 6 tháng đầu năm 2019 không phát sinh. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 2.980 ha, chủ yếu là diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.

Trong 6 tháng đầu năm, cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 355 nghìn cây, tăng 1 nghìn cây so với cùng kỳ năm 2018. Việc trồng cây đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế- xã hội, qua phong trào trồng cây, nhận thức và ý thức của cộng đồng về giữ gìn vệ sinh chung đã từng bước được thay đổi, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước và tính đa dạng sinh học của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ, giảm thiểu tác hại do thiên tai gây ra. Trong những năm qua do chưa chủ động được nguồn giống có chất lượng tốt nên việc lựa chọn bộ giống cây trồng còn đơn điệu, chủ yếu là trồng cây thông và cây keo. Để phục vụ công tác trồng rừng và trồng cây phân tán, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển các vườn ươm các loại giống cây lâm nghiệp và nhân giống các loại cây lấy gỗ khác. 6 tháng đầu năm 2019, tổng số cây ươm giống lâm nghiệp toàn tỉnh ước đạt 85 ngàn cây, tăng 2,4% (+2000 cây) so với vùng kỳ năm 2018, chủ yếu ở khu vực hộ cá thể.

Ước tính 6 tháng đầu năm, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.450 m3, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng khai thác củi ước đạt 22.150 ster, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,6%. Củi khai thác chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán. Các sản phẩm lâm sản khác như tre, nhựa thông, măng tươi, mộc nhĩ…tăng giảm không lớn so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp toàn tỉnh.

2.3. Thủy sản

Trong 6 tháng đầu năm, sản xuất thủy sản tương đối ổn định và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ hơn so với cùng kỳ năm 2018; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển tốt, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... diễn biến thời tiết trong  6 tháng đầu năm 2019 tương đối thuận lợi nhiệt độ thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nên các loài cá phát triển tốt, cho năng suất cao.

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 38.000 tấn, tăng 3,3% (+1.198 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sản lượng thủy sản nuôi trồng.

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 37.135 tấn, tăng 3,4% (+1.204 tấn) so với cùng kỳ năm 2018. Cá là loài thủy sản được nuôi trồng chủ yếu trên địa bàn tỉnh, sản lượng ước đạt 37.100 tấn, chiếm 99,9% sản lượng thủy sản nuôi trồng, tăng 3,4% (+1.110 tấn) so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, cá Trắm, cá rô phi là chủ lực, sản lượng cá trắm ước đạt 12.030 tấn, chiếm 32,4% sản lượng cá nuôi trồng, tăng 3,3% (+388 tấn); cá rô phi ước đạt 7.900 tấn chiếm 21,3% tăng 3,8% (+289 tấn); Tiếp đến là cá Trôi ước đạt 4.480 tấn, chiếm 12,1%, tăng 3,1% (+134 tấn); sản lượng cá chép đạt 4.195 tấn, chiếm 11,3%; tăng 3,8% (+154 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Sản lượng nuôi tôm ước đạt 10 tấn, nuôi thủy sản khác ước đạt 25 tấn. Sản xuất giống thuỷ sản 6 tháng ước đạt 626 triệu con, tăng 2,8% (+17 triệu con); trong đó, cá giống các loại 625 triệu con; giống thủy sản khác 1 triệu con. Nguyên nhân là do thời gian qua nhiều hộ dân đã được đầu tư tốt về kỹ thuật nên mở rộng thêm nhiều trại ươm giống thủy sản mới, chất lượng giống thủy sản được đảm bảo, nguồn giống thủy sản cung cấp cho cả người nuôi trong và ngoài tỉnh, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Phương thức nuôi trồng thủy sản lồng bè được duy trì và phát triển khá. Trong 6 tháng đầu năm, lưu lượng dòng chảy ổn định tạo điều kiện tốt cho cá phát triển. Hiện nay, giống cá nuôi lồng chủ yếu là giống cá chất lượng cao như cá lăng, cá Diêu hồng, cá Trắm giòn, Chép giòn được các hộ đầu tư nuôi thả vì chất lượng cá ngon, được nhiều nhà hàng, thực khách chọn lựa. Tổng sản lượng cá lồng 6 tháng đầu năm ước đạt 2.930 tấn chiếm 7,9% tổng sản lượng cá nuôi trồng. Trong đó: cá Lăng ước đạt 840 tấn; cá Diêu hồng đạt 1.590 tấn tăng 3,1% (+48 tấn) so với cùng kỳ năm 2019.

Sản lượng khai thác thủy sản nội địa ước đạt 865 tấn, giảm 0,8% (-7 tấn) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản lượng cá khai thác ước đạt 605 tấn giảm 0,5% (-3 tấn), tôm ước đạt 35 tấn giảm 2,8% (-1 tấn) và thuỷ sản khác ước đạt 225 tấn, giảm 1,3% (-3 tấn). Nguyên nhân giảm là do các sản phẩm thuỷ sản tự nhiên ngày càng khan hiếm, nguồn nước bị ô nhiễm nên đã làm giảm khả năng sinh sản và phát triển của các loài cá tự nhiên.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 6 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng trưởng khả quan, tuy nhiên mức tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ. Nguyên nhân là do tác động trái chiều từ một số ngành như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, sản xuất, phân phối điện và các ngành có tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại như: sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm điện tử, sản xuất xe có động cơ.

3.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

Ước tháng 6 so với tháng trước, sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng không đáng kể (tăng 0,6%). Trong nhóm ngành chính, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,4%; ngành ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 2,5%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 0,7%; riêng ngành khai khoáng giảm 12,1%.

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 6 ước tăng 11,7%; trong đó, ngành khai khoáng tăng 11,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 11,4%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 8,2%.

 Quý I, sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 9,2%; trong đó đóng góp vào mức tăng chung cụ thể như sau: ngành khai khoáng giảm 18,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 6,1%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 25,6%.

Sang quý II, bên cạnh việc môi trường đầu tư kinh doanh có nhiều chuyển biến rõ nét, thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp đã tích cực tham gia phong trào "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển"; nhiều doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được lượng sản xuất tăng ổn định.

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh quý II ước tăng 9,4% trong đó đa số các ngành đều có chỉ số tăng cụ thể: ngành khai khoáng tăng 11,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 13,2%; riêng ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà có chỉ số giảm nhẹ, giảm 0,6%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019sản xuất  công nghiệp của tỉnh vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định với mức tăng 9,3%, trong đó tác động của từng nhóm ngành đến mức tăng chung cụ thể như sau: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,5%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 19,3%; hai ngành  khai khoáng và sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà đều có chỉ số giảm với mức giảm lần lượt là 5,6% và 3,1%.

Nguyên nhân đối với ngành khai khoáng, sản lượng đá khai thác giảm do nhiều vùng nguyên liệu hết hạn, giá bán thấp, chi phí sản xuất tăng trong khi đó nhu cầu thị trường trầm thấp hơn những năm trước do hiện nay trên địa bàn tỉnh ít công trình xây dựng lớn. Tương tự, ngành sản xuất, phân phối điện do áp lực cạnh tranh về giá bán đến từ các đơn vị sản xuất điện khác (chủ yếu là thuỷ điện) đã làm giảm sản lượng nhiệt điện.

Với các sản phẩm có lượng sản xuất tăng như: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 15,0%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 16,1%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 23,7%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 37,1%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 10,1%; đinh, đinh mũ, ghim, vít, then, đai ốc,.. tăng 35,4%; mạch điện tử tích hợp tăng 18,4%; micro và các linh kiện của chúng tăng 17,8%; …

Tuy nhiên vẫn còn một số sản phẩm có lượng sản xuất giảm, cụ thể: thức ăn chăn nuôi do bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ dịch tả lợn châu Phi làm cho lượng sản xuất giảm 12,4%; ngoài ra còn một số sản phẩm khác giảm như: máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy... giảm 2,5%; điện sản xuất giảm 4,8%;...

3.2. Chỉ số tiêu thụ

Chỉ số tiêu thụ dự ước tháng 6 so với tháng trước giảm 0,8%, tăng 14,9% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm tăng 13,7%. Trong đó nhiều ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao và khá cao như: dệt tăng 31,0%; sản xuất trang phục tăng 12,6%; sản xuất da và các sản phẩm da có liên quan tăng 22,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 22,6%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 22,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 36,7%; sản xuất kim loại tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 22,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,1%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 14,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 24,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,9%...

3.3. Chỉ số tồn kho

So với cùng kỳ, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/6/2019 giảm 2,6%. Trong đó có nhiều ngành có chỉ số tồn kho giảm hoặc tăng rất thấp, đó là: sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 34,9%; sản xuất đồ uống giảm 84,9%; dệt giảm 32,6%; sản xuất trang phục giảm 10,1%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ giảm 23,3%; sản xuất than cốc giảm 31,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 7,7%; sản xuất kim loại giảm 7,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) giảm 1,8%%; sản xuất thiết bị điện giảm 5,1%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 17,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 29,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 12,8%...

3.4. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2019 tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 0,20% so với cùng kỳ, tính chung 6 tháng đầu năm tăng 1,2%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng là: dệt tăng 18,1%; sản xuất trang phục tăng 1,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,2%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 5,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 1,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 27,5%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 3,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 9,9%;...

4. Tình hình phát triển doanh nghiệp

Tập trung triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 của UBND tỉnh; thực hiện các giải pháp, cơ chế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo chấn chính việc quản lý, sử dụng đất tại các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ riêng của tỉnh để khuyến khích thành lập mới các doanh nghiệp.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, đã đăng ký thành lập mới 747 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 6.463 tỷ đồng, tăng 19% về số lượng, tăng 52% về vốn đăng ký, có 94 doanh nghiệp giải thể. Đến 31/5/2019: toàn tỉnh có 13.495 doanh nghiệp vốn 155.919 tỷ đồng; trong đó, số doanh nghiệp đang hoạt động chỉ chiếm gần 60%.

5. Hoạt động đầu tư

5.1 Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước

Ước tháng 6, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 167 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 88 tỷ đồng, tăng 13,0%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 68 tỷ đồng, giảm 0,4%; vốn ngân sách cấp xã đạt 11 tỷ đồng, tăng 15,0%.

Thực hiện quý I, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 297 tỷ đồng, tăng 110,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 135 tỷ đồng, tăng 59,0%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 137 tỷ đồng, tăng 270,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 25 tỷ đồng, tăng 28,8%.

Ước tính quý II, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 471 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 247 tỷ đồng, tăng 24,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 192 tỷ đồng, tăng 23,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 32 tỷ đồng, tăng 28,9%.

Tính chung  6 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 767 tỷ đồng, chiếm 35,2% kế hoạch năm, tăng 47,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 382 tỷ đồng, chiếm 31,9% kế hoạch năm, tăng 34,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 329 tỷ đồng, chiếm 38,8% kế hoạch năm, tăng 71,3%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 56 tỷ đồng, chiếm 41,1% kế hoạch năm, tăng 28,9%. Trong 6 tháng đầu năm 2019 đã tập trung hoàn thành các thủ tục thanh toán đối với các công trình đã hoàn thành, tăng cường đôn đốc triển khai các công trình chuyển tiếp, hoàn thành các thủ tục triển khai các công trình khởi công mới.

5.2 Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn

Thực hiện quý I, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 9.114 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước: trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn đạt 967 tỷ đồng, tăng 21,1%; vốn ngoài nhà nước đạt 5.193 tỷ đồng, tăng 12,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2.954 tỷ đồng, tăng 30,1%.

Ước tính quý II, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 10.749 tỷ đồng, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước: trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn đạt 1.278 tỷ đồng, tăng 10,1%; vốn ngoài nhà nước đạt 7.368 tỷ đồng, tăng 20,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2.103 tỷ đồng, tăng 25,4%.

Tính chung 6 tháng năm, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 19.863 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước: trong đó, vốn nhà nước đạt 2.244 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước đạt 12.561 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 5.058 tỷ đồng, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước.

5.3. Thu hút đầu tư

Với việc tổ chức tốt Hội nghị đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp lần thứ nhất năm 2019, các ý kiến, kiến nghị đã được UBND tỉnh tiếp thu và tìm các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh;  góp phần làm cho thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh đạt khá cao so với cùng kỳ năm trước.

Về thu hút đầu tư trong nướctrong 5 tháng đầu năm 2019, đã chấp thuận cho 57 dự án và điều chỉnh cho 23 dự án đầu tư trong nước có nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, với số vốn thu hút đầu tư 5.832,8 tỷ đồngtăng 113,6 % so với cùng kỳ năm trước. Thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với 11 dự án.

          Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến 15/6/2019 ước đạt 409 triệu USD tăng 21,5% so với cùng kỳ 2018, nâng tổng vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp FDI tại địa bàn đạt 4.970 triệu USD.

Cấp mới cho 36 dự án với số vốn đăng ký 318 triệu USD (17 dự án ngoài KCN, với số vốn 133 triệu USD; 19 dự án trong KCN với số vốn 185 triệu USD), tăng 2 lần về số lượng dự án, tăng 4 lần về vốn đâu tư so với cùng kỳ 2018. Năm 2019 thu hút được một số dự án có quy mô vốn khá như: Nhà máy sản xuất giấy (40 triệu USD); Dự án nam châm FERRITE UNION MATERIALS (23 triệu USD); Dự án sản xuất sản phẩm da, giầy cao cấp GEORGE GLORY (37 triệu USD); Dự án phát triển công nghiệp BW Hải Dương (32 triệu USD); Dự án may Tinh Lợi (39 triệu USD).

Điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 12 lượt dự án với số vốn tăng thêm hơn 82 triệu USD (04 dự án ngoài KCN 7 triệu USD, 8 dự án trong KCN, với số vốn tăng 76 triệu USD).

Trong 6 tháng đầu năm nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo (chiếm 87,7%, dịch vụ 12,1% tổng vốn đầu tư); có 8 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại địa bàn. Hồng Kông đứng vị trí thứ nhất với với tổng vốn đầu tư là 108 triệu USD, chiếm 33,8%; Samoa đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký là 68 triệu USD chiếm 21,3%; Hàn Quốc đứng thứ ba, với tổng vốn 55 triệu USD chiếm 17,2%; Singapore đứng thứ tư, với tổng vốn 32 triệu USD, chiếm 10% tổng vốn đầu tư cấp mới; Trung Quốc đứng thứ năm, với tổng vốn 30 triệu USD chiếm 9,5%; còn lại các quốc gia đầu tư khác, Nhật Bản,  BritishVirgin Islands, Seychelles, Đài Loan...

Đến nay có 320 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh, một số chỉ tiêu chính ước đạt của các doanh nghiệp FDI như sau: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2.600 triệu USD, tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước ước đạt 210 triệu USD, tăng 1,05% cùng kỳ năm 2018; tổng số lao động làm việc trực tiếp tại các doanh nghiệp FDI đạt trên 191.000 người cùng hàng ngàn lao động gián tiếp khác.

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan quản lý nhà về đầu tư nước ngoài trên địa bàn đã quyết định chấm dứt 01 dự án FDI do nhà đầu tư không tiếp tục triển khai và đề xuất chấm dứt dự án, với tổng vốn đầu tư 4,8 triệu USD.

6. Thương mại, giá cả, dịch vụ

6.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, thực hiện tốt công tác quản lý, cập nhật thông tin, cung cấp hàng trăm lượt tin bài; mời doanh nghiệp tham gia 21 hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước. Tổ chức thành công Ngày hội vải thiều 2019 tại huyện Thanh Hà, với 30 gian hàng trưng bày vải thiều và các mặt hàng nông sản tiêu biểu như: ổi, quất, chuối, nếp cái hoa vàng, mật ong vải, mắm cáy...

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 6 năm 2019 ước đạt khoảng 4.003 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,8%; tăng 11,6% so với cùng kỳ. Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 2.506 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.422 tỷ đồng, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 75 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm trước. Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.387 tỷ đồng, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 585 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá quý I đạt 11.434 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ. Trong đó; kinh tế cá thể đạt 7.203 tỷ đồng, chiếm 63,0% và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 4.016 tỷ đồng, chiếm 35,1% và tăng 8,3%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 215 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 5,6% so với năm trước.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá quý II năm 2019 ước đạt 11.796 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Trong đó; kinh tế cá thể đạt 7.389 tỷ đồng, chiếm 62,6% và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 4.186 tỷ đồng, chiếm 35,5% và tăng 12,4%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 221 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 7,7% so với năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 23.231 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, doanh thu  bán lẻ hàng hóa 6 tháng tăng 7,36%.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 14.591 tỷ đồng, chiếm 62,8% và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 8.203 tỷ đồng, chiếm 35,3% và tăng 10,4%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 437 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 7,1% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,1% trong tổng số và đạt 7.926 tỷ đồng, tăng 13,6% so với năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 3.418 tỷ đồng, tăng 12,8% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 3.165 tỷ đồng, tăng 11,0% so với năm trước.

6.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 6 ước đạt 867 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước; tăng 9,1% so với cùng kỳ. Trong đó; dịch vụ lưu trú đạt 29 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước; dịch vụ ăn uống đạt 334 tỷ đồng, tăng 1,3%; dịch vụ khác đạt 502 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước, tăng 9,4% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội quý I đạt 2.499 tỷ đồng; tăng 7,7% so với cùng kỳ. Trong đó; dịch vụ lưu trú đạt 71 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 960 tỷ đồng, tăng 10,0%; dịch vụ khác đạt 1.465 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội quý II ước đạt 2.560 tỷ đồng; tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó; dịch vụ lưu trú đạt 84 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 990 tỷ đồng, tăng 8,3%; dịch vụ khác đạt 1.483 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.

Sáu tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 5.059 tỷ đồng; tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 3.163 tỷ đồng, chiếm 62,5% và tăng 8,7% so với năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.563 tỷ đồng, chiếm 30,9% và tăng 7,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 235 tỷ đồng, chiếm 4,6% và tăng 4,9% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 155 tỷ đồng, chiếm 3,6% trong tổng số và tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 1.949 tỷ đồng, chiếm 38,5% tổng số và tăng 9,1%; dịch vụ khác đạt 2.948 tỷ đồng, chiếm 58,3% tổng số, tăng 7,6% so với cùng kỳ. 

Bên cạnh đó, tỉnh còn tích cực đẩy mạnh hợp tác liên kết vùng để hình thành các tour, tuyến du lịch, ngoài ra còn tăng cường qua các chương trình Famtrip, hội thảo, khảo sát,... Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 6.319 tỷ đồng, tăng 10,0%.

6.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 6 ước đạt 879 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,0%, tăng 11,6% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 116 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,6%, so với cùng kỳ tăng 14,1%; vận tải hàng hoá đạt 679 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước, tăng 11,9% so với cùng kỳ.

 Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải quý I đạt 2.410 tỷ đồng, tăng 7,6%; trong đó, vận tải hành khách đạt 329 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 9,0%; vận tải hàng hoá đạt 1.841 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ.

Ước quý 2, doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải đạt 2.602 tỷ đồng, tăng 11,2%; trong đó, vận tải hành khách đạt 342 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 13,4%; vận tải hàng hoá đạt 2.010 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ.

Ước tính 6 tháng đầu năm, doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải đạt 5.011 tỷ đồng, tăng 9,4%; trong đó, vận tải hành khách đạt 671 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 11,2%; vận tải hàng hoá đạt 3.850 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 490 tỷ đồng, tăng 6,7%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 6 ước đạt 3,0 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,1% và tăng 14,4% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 113,4 triệu hành khách.km, giữ nguyên so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 17,5 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 11,4%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 680,2 triệu hành khách.km tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6 ước đạt 11,7 triệu tấn, so với tháng trước tăng 1,3% và tăng 12,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 792,4 triệu tấn.km, tăng 1,0% so với tháng trước. Sáu tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 66,8 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 8,9%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.606,2 triệu tấn.km, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.

6.4. Hoạt động xuất, nhập khẩu

Giá trị hàng hóa xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 3.397 triệu USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu chủ yếu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

 Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 3.418 triệu USD, tăng 26,0% so với cùng kỳ năm trước.

6.5. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 0,52% so với tháng trước, tăng 2,09% so với tháng 12 năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm tăng 2,96% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Mức độ tăng so với tháng trước giữa hai khu vực tương đối đồng đều nhau, khu vực thành thị tăng 0,45%, khu vực nông thôn tăng 0,55%.

Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tháng này tăng 0,52% là do giá một số mặt hàng trong nhóm thực phẩm tăng cao, tăng chủ yếu là nhóm thịt lợn tăng bình quân 10.000-12.000 đồng/kg so với tháng trước (do  nguồn cung đã khan hiếm) dự báo từ giờ trở đi giá sẽ có xu hướng tăng do nguồn cung hạn chế, hiện nay giá thịt lợn hơi đã và sẽ tiếp đà tăng này do khan hiếm nguồn hàng.

Tuy nhiên, tháng này một số nhóm hàng có xu hướng giảm như: giá xăng, dầu và ga đun do nhà  nước điều chỉnh giảm như, ga đun giảm 30.000 đồng/bình 12kg; dầu hỏa giảm 544 đồng/lít; xăng các loại giảm từ 732-1.102 đồng/lít; dầu diezen giảm 557 đồng/lít.

 Giá vàng và giá Đô la Mỹ tháng này biến động phức tạp, cả Vàng và Đô la Mỹ đều có xu hướng tăng, giá Vàng tăng 0,57% và giá Đô la Mỹ tăng 0,34% so với tháng trước.

Sáu tháng đầu năm nay, chỉ số trượt giá lạm phát ước tăng 2,96% đây là năm có tốc độ lạm phát tăng cao nhất so với 6 tháng đầu năm của mấy năm gần đây, cụ thể: năm 2015 tăng 0,44%; năm 2016 tăng 2,74%; năm 2017 tăng 2,78% và năm 2018 tăng 2,34%.

Do vậy, mục tiêu kiềm chế lạm phát theo mục tiêu mà Quốc hội thông qua (tăng 4%) đòi hỏi các cấp, các ngành cần tăng cường công tác thông tin, dự báo biến động của thị trường, tập trung cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh; đồng thời nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả đầu tư của Nhà nước, nhằm nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội, giảm giá thành sản phẩm. Qua đó, tăng nguồn cung hàng hoá trên thị trường, thỏa mãn nhu cầu cho tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh.

7. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách 6 tháng đầu năm ước đạt khá, đã tập trung rà soát và tích cực triển khai các biện pháp thu các khoản thuế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước đạt 9.941 tỷ 450 triệu đồng, bằng 66,8% dự toán năm, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 7.523 tỷ 600 triệu đồng, bằng 62,4% dự toán năm, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước.

Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi ở các cấp ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách. Bảo đảm nhu cầu chi thường xuyên, chi bảo đảm an sinh xã hội và chi đầu tư phát triển theo dự toán giao. Tổng chi cân đối ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm ước đạt 6.316 tỷ 766 triệu đồng, bằng 52,7% dự toán năm, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước.

8. Hoạt động tài chính, ngân hàng

Nguồn vốn tăng trưởng ngay từ những tháng đầu năm, liên tục qua các tháng, tập trung vào tiền gửi tiết kiệm của dân cư, theo loại tiền VND. Đến 30/6/2019, ước tổng nguồn vốn huy động 107.300 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước và 7,7% so với cuối năm 2018. Tín dụng tuy có tăng trưởng chậm hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước nhưng chất lượng tín dụng vẫn giữ ổn định, trong tầm kiểm soát. Đến 30/6/2019, ước tổng dư nợ tín dụng 75.850 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ và 3,5% so với cuối năm 2018. Nợ xấu chiếm 1,16% tổng dư nợ.

II. Một số vấn đề xã hội

Điểm nổi bật trong 6 tháng đầu năm nay đó là: Thị xã Chí Linh chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Hải Dương từ ngày 01/3/2019 (Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội). Tối ngày 20/4, tại Quảng trường Sao Đỏ, Thành ủy - HĐND - UBND - Uỷ ban MTTQ  thành phố Chí Linh đã long trọng tổ chức Lễ công bố Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập thành phố Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương.

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Tổ chức thành công Lễ hội Văn hóa Du lịch Xứ Đông, chương trình giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường tại di tích đền thờ nhà giáo Chu Văn An, di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc. Tiếp tục quan tâm công tác tôn tạo, trùng tu, nâng cấp các khu, điểm di tích trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thành công chung kết Robocon Việt Nam năm 2019 tại Hải Dương.

Thể thao; Hoạt động TDTT quần chúng tại địa bàn các huyện, thành phố, các đơn vị, ngành trong toàn tỉnh đã tổ chức được hàng trăm giải thể thao thu hút được sự tham gia hưởng ứng của mọi tầng lớp nhân dân. Tổ chức thành công giải thể thao Bóng bàn quốc tế cúp Vicem Hoàng Thạch; Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án xây dựng sân thể thao các thôn, sân thể thao xã giai đoạn 2014-2020 gắn với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ; Đề án xây dựng ao bơi hợp vệ sinh khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016-2020. Hoàn thành  sáp nhập một số đơn vị sự nghiệp ngành văn hóa.

2. Y tế

Đã chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh, cấp cứu và điều trị kịp thời cho người bệnh; tăng cường công tác thanh, kiểm tra VSATTP... Trong 6 tháng đầu năm 2019 số trường hợp mắc bệnh Sởi tăng cao so với cùng kỳ năm 2018, số bệnh nhân mắc Thủy Đậu cũng tăng so với năm 2018, không có trường hợp biến chứng nặng và tử vong.

Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế  (Tỉ lệ trẻ em được tiêm chủng đủ các loại vắc xin theo quy định chương trình tiêm chủng mở rộng đạt >99%; Tỷ lệ trẻ em từ 6 - 36 tháng được uống vitamin A đạt 100%; Tỷ lệ mắc Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học/10.000 dân là 12,6%o. Tỷ lệ điều trị khỏi 95%; khống chế tỷ lệ nhiễm HIV <0,3%0; Tỉ lệ  trẻ em < 5 tuổi SDD: 10,7% (cùng kỳ 2018 là 10,8%); Tỷ số giới tính khi sinh  115,6 trẻ nam/100 trẻ nữ (giảm 0,1 điểm % so với cùng kỳ năm 2018); Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 16,51% (giảm 0,63% so với cùng kỳ năm 2018). Hoạt động khám, chữa bệnh có chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao của tuyến TW được triển khai áp dụng tại các bệnh viện tuyến tỉnh, nhiều kỹ thuật tuyến tỉnh được triển khai áp dụng tại tuyến huyện. Tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 31,2 giường (năm 2018 là 28,7 giường).

Tiếp tục thực hiện tốt Đề án xây dựng Tiêu chí quốc gia về Y tế xã, đến nay toàn tỉnh có 243/264 (đạt 92%) xã đạt tiêu chí quốc gia về Y tế (cùng kỳ 2018 là 86,8%).

3. Giáo dục

Hoàn thành nhiệm vụ năm học 2018-2019, cơ bản đạt các chỉ tiêu kế hoạch đầu năm học đề ra đề ra: Chất lượng phổ cập, xóa mù chữ tiếp tục được duy trì, nâng cao. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,45%; chất lượng học sinh giỏi quốc gia có tiến bộ vượt bậc có tổng số 70 giải, các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhất là đảm bảo đủ số phòng học tương ứng với số lớp học.

Tính đến hết tháng 5/2019, toàn tỉnh có 694 trường, đạt 73,9% (tăng 62 trường, 7,9%) đạt chuẩn quốc gia. Tích cực triển khai thực hiện Đề án ngoại ngữ 2020 theo Kế hoạch. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019-2020 diễn ra nghiêm túc, đúng quy chế. Đã có 18.892/21.341 học sinh tốt nghiệp THCS đăng ký dự thi.

Đến nay, các điều kiện tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 đã được đảm bảo. Có tổng số 19.327 thí sinh dự thi ở 34 điểm trường với 821 phòng thi. Chỉ đạo các Sở, ngành liên quan đảm bảo các điều kiện để kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế.

4. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

Giải quyết việc làm; Công tác giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực, 6 tháng đầu năm 2019 ước giải quyết việc làm mới cho 18.129 lao động, đạt 51,5% so với kế hoạch năm, bằng 99,98% so với cùng kỳ năm 2018; xuất khẩu lao động được 2.261 lao động, đạt 52,6% so với kế hoạch năm 2019, đạt 109% so với cùng kỳ. Cho vay 18,3 tỷ đồng thuộc nguồn ngân hàng chính sách xã hội, thu hút 459 dự án và tạo việc làm mới cho 459 lao động.

 Đã tổ chức 32 phiên giao dịch việc làm thu hút sự tham gia của 592 doanh nghiệp với 5.478 người lao động, đạt 133,8% so với cùng kỳ 2018, trong đó số người nhận được việc làm sau khi phỏng vấn tại sàn giao dịch là 1.959 người. Tổ chức thành công Ngày hội việc làm tỉnh Hải Dương.

Tổ chức tốt các hoạt động thăm, tặng quà các gia đình chính sách nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Phối hợp với tỉnh Hưng Yên thực hiện dự án cải tạo bia mộ, nhà bia tại nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 và nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị. Tiếp tục tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, giải quyết đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân theo quy định.

5. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đã hoàn thành Quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh cấp tỉnh đến năm 2020 đã được Bộ Tài nguyên và môi trường trình Chính phủ phê duyệt. Tổ chức rà soát, thống nhất chỉ tiêu các loại đất với 12 huyện, thành phố về Quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh cấp huyện đến 2020.

Giải quyết khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để tháo gỡ cho các doanh nghiệp có sử dụng đất để thực hiện dự án . Chỉ đạo triển khai lập dự án xây dựng Bảng giá đất trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2020-2024.

Tiếp tục Đề án “Thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016 - 2020”, hướng dẫn quy trình vận chuyển, tiếp nhận, giám sát việc giao nhận và xử lý rác thải sinh hoạt. Trên địa bàn tỉnh hiện có 17 cơ sở đã lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, trong đó có 15 cơ sở đã truyền dữ liệu về Sở TN&MT. Tăng cường kiểm tra các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

Tăng cường công tác quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản. Đôn đốc các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép theo quy định. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, xử lý việc khai thác cát trái phép trên các tuyến sông trên địa bàn tỉnh. Đôn đốc các doanh nghiệp có giấy phép khai thác khoáng sản bổ sung, hoàn thiện các hồ sơ tài liệu và thực hiện nghĩa vụ  theo quy định của pháp luật.

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 68 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 59 vụ với tổng số tiền phạt 940,7 triệu đồng.

6. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 140 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.539 triệu đồng.

Về  tai nạn giao thôngtháng 5/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 12 người, bị thương 6 người. Năm tháng đầu năm 2019 xảy ra 105 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 97 người và bị thương 48 người; so với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông tăng 1 vụ (+1,0%), tăng 2 người chết (+2,1%) và giảm 9 người bị thương (-16,0%)./.


Theo Cục Thống kê tỉnh
Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương
Thông tin chỉ đạo điều hành
Thông tin tra cứu
Danh bạ Sở Ban Ngành
Danh bạ UBND các Huyện TP-TX
Số điện thoại cần biết
Các tuyến xe buýt
Các hãng taxi
Các Văn phòng Công chứng
Bảng khung giá đất
Lịch phát sóng đài truyền hình
Lịch cắt điện
Kết quả XSKT
na
na
na
na
na
na
na
qc
na
qc
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 18382062

Cơ quan chủ quản:Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương
Trưởng Ban Biên tập: Ông Lương Văn Cầu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương
Cơ quan thường trực: Văn phòng UBND tỉnh Hải Dương
Đơn vị thực hiện: Trung Tâm Công nghệ thông tin - Văn phòng UBND tỉnh Hải Dương
Địa chỉ: Số 45 Quang Trung - TP Hải Dương
Điện thoại: 0220.3837 444 - Fax: 0220.3853 601 - Email: haiduong@chinhphu.vn, ubndthd@gmail.com