Theo
ông Nguyễn Huy Đồng - Phó trưởng ban thường trực Ban quản lý các Khu công
nghiệp (KCN) tỉnh, mục đích kiểm tra là xem việc xây dựng của dự án có đúng quy
hoạch đã được phê duyệt và có tuân thủ trình tự thủ tục đầu tư xây dựng hay
không.
“Các
dự án chậm trễ có lý do chính đáng mới được gia hạn”, ông Mai Đức Chọn - Trưởng
ban Quản lý KCN tỉnh Hải Dương, nói. Ông Chọn dẫn chứng: năm 2008, đồng won
(Hàn Quốc) mất giá nặng nề, một vài nhà đầu tư Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh có
đơn đề nghị ban quản lý cho họ lùi tiến độ nhập khẩu thiết bị, máy móc phục vụ
dự án do việc quy đổi từ đồng won sang đồng đô la Mỹ ở thời điểm đó có thể khiến
dự án bị đội vốn đầu tư lên rất nhiều. Nhưng ông cho rằng những lý do có thể
chấp nhận được như vậy từ phía các nhà đầu tư không nhiều.
Tại
cuộc hội thảo về việc thu hút đầu tư vào các tỉnh phía Bắc cách đây vài tháng,
GS.TS. Đàm Văn Nhuệ (trường Đại học kinh tế quốc dân) phân tích rằng, 18 năm
qua chưa có một văn bản nào hướng dẫn về việc phát triển bền vững các KCN. Các
địa phương, mạnh nơi nào nơi đó làm.
Việc
tranh thủ thu hút đầu tư nước ngoài kéo theo “làn sóng” chào đón nhà đầu tư
bằng mọi giá ở các địa phương, khiến cho giấy phép đầu tư được cấp quá dễ dãi,
với mục tiêu hàng đầu là “lấp đầy” các KCN. Hoặc nhiều địa phương, cứ thấy nhà
đầu tư nước ngoài là trải thảm đỏ, xem vốn đăng ký cao là được chấp thuận. Vì
vậy nên mới có tình trạng lấy đất nông nghiệp làm sân golf khá dễ dãi, nay lại
phải thu hồi.
Một vài số liệu chưa đầy đủ cho thấy ở Bắc Ninh có 46 dự án
bị rút giấy phép (cộng dồn từ năm 2007 đến nay), 22 dự án ở Tây Ninh, 29 dự án
ở Lâm Đồng, 12 dự án ở Ninh Thuận, 12 dự án ở Phú Quốc (Kiên Giang), 23 dự án ở
Dung Quất (Quảng Ngãi)…
Một
lãnh đạo của Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng bên cạnh mặt tích cực trong việc
phân cấp cấp phép đầu tư cho các địa phương là nhằm tăng tính tự chủ, năng động
của từng địa phương, mặt trái của nó cũng đã bộc lộ - đó là các địa phương “đua
nhau” cấp phép rồi rút giấy phép đầu tư.
Ông
Mai Đức Chọn nói rằng, thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư nay đã thông thoáng
hơn, mục đích là để các nhà đầu tư nâng cao năng lực tự chịu trách nhiệm về dự
án của mình. Ví dụ như hiện tại, địa phương không phải thẩm định nguồn vốn thực
hiện dự án như trước nữa.
“Kể
cả nhà đầu tư sử dụng 100% vốn vay mà đáp ứng được các điều kiện cấp phép
cơ bản khác, phù hợp với kinh tế - xã hội địa phương thì chúng tôi vẫn chấp
thuận”, ông Chọn cho hay.
Việc
không phải thẩm định nguồn vốn thực hiện dự án là một sự cải cách đáng kể nhưng
lãnh đạo Sở KH&ĐT một số tỉnh phía Bắc nói rằng lúc trước yêu cầu phải thẩm
định họ còn không thể thẩm định đầy đủ và chính xác được. Nay không cần thẩm
định thì các địa phương có thể lúng túng trước các dự án đăng ký hàng trăm
triệu đến hàng tỉ đô la vốn và đi kèm theo đó là áp lực hậu kiểm.
Dù
thủ tục đầu tư đã thông thoáng hơn, nhưng nhiều địa phương cho biết họ đang
phải chịu áp lực khác trong việc tiền kiểm các dự án khi mà mức độ phức tạp về
công nghệ, tính chất của dự án ngày càng tăng, trong khi nhân lực của các ban
quản lý lại thiếu, yếu. Do vậy, phải chăng việc phân cấp cũng có mâu thuẫn cần
được giải quyết?
Theo
chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, việc tăng sự thông thoáng về thủ tục đầu tư
đồng thời cũng tăng những dự án đạt hiệu quả, trong thực tế không hề mâu thuẫn
nhau nếu làm đúng từ đầu và nếu các địa phương nâng cao năng lực thẩm định dự
án.
Việc
các tỉnh cấp giấy phép tràn lan thời gian trước do thiếu quy hoạch hoặc việc
thực thi quy hoạch (nếu đã có) chưa nghiêm. Ví như quy hoạch ngành thép phải đi
đôi với quy hoạch cảng, phải tuân thủ quy hoạch ngành từ trung ương chứ không
phải tỉnh nào cũng cấp phép đầu tư các dự án thép, dù không đủ điều kiện tiếp
nhận dự án.
Việc
Bộ Công Thương mới đây phải đặt ra bốn tiêu chí cho việc cấp phép dự án thép và
yêu cầu các địa phương tuân thủ là một ví dụ. Làm được như vậy, vừa thuận tiện
cho địa phương, vừa thuận tiện cho nhà đầu tư không phải vừa làm vừa ngóng. (TBKTSG-Online)